Quy hoạch cụm công nghiệp Huế đến năm 2030 xác định tổng diện tích 1.700 ha, với nhiều cụm được điều chỉnh quy mô và bổ sung địa điểm phát triển, nhằm mở rộng không gian sản xuất cho doanh nghiệp địa phương.
Theo Phụ lục III ban hành kèm Quyết định số 756/QĐ-UBND ngày 28/2/2026 của UBND TP. Huế, tổng diện tích các cụm công nghiệp (CCN) theo hiện trạng thành lập là 415,11 ha, trong khi quy mô quy hoạch đến năm 2030 được xác định ở mức 1.700 ha. Danh mục bao gồm những cụm hiện hữu, các địa điểm được điều chỉnh diện tích và phần quỹ đất dự kiến phát triển trong tương lai.
Mạng lưới CCN được phân bố tại nhiều địa bàn như Hương Trà, Hương Thủy, Phong Điền, Phú Vang, Phú Lộc và A Lưới. Việc mở rộng quy hoạch không chỉ bổ sung mặt bằng sản xuất mà còn tạo cơ sở tổ chức hoạt động công nghiệp theo hướng tập trung, phù hợp với điều kiện phát triển và nhu cầu doanh nghiệp tại từng khu vực.

Không gian nhà xưởng và hạ tầng sản xuất tập trung tại khu vực cụm công nghiệp Điền Lộc. Ảnh: Báo Đấu thầu.
Theo phương án điều chỉnh, quy hoạch cụm công nghiệp Huế gồm 28 địa điểm được nêu tên và một mục dành cho các CCN tiềm năng, mở rộng tại địa phương với diện tích dự kiến 329,71 ha.
Mạng lưới CCN được phân bố tại nhiều địa bàn, với quy mô khác nhau. Một số cụm có diện tích định hướng từ 70–75 ha như Tứ Hạ, Hương Phú, Bình Thành, La Sơn, Hương Vân và Thủy Châu. Tại Hương Trà có các cụm Tứ Hạ, Hương Văn 1, Hương Văn 2 và Hương Vân; khu vực Phong Điền gồm Điền Lộc, Điền Lộc 2, Sơn Xuân Mỹ và Khánh Mỹ.
Ngoài ra, cụm công nghiệp Thủy Phương được quy hoạch 74,8 ha, Điền Lộc 2 có quy mô 20,82 ha. Các địa bàn Phú Vang, Phú Lộc và A Lưới cũng được bố trí quỹ đất phát triển CCN, góp phần mở rộng không gian sản xuất tại nhiều khu vực của thành phố.
Sự phân bố này tạo thêm lựa chọn địa điểm cho doanh nghiệp theo nhu cầu sử dụng đất, khả năng tiếp cận nguồn nguyên liệu, lao động và thị trường. Tuy nhiên, diện tích quy hoạch chưa phản ánh đầy đủ mức độ hoàn thiện hạ tầng và khả năng tiếp nhận đầu tư của từng cụm.
Trong phương án điều chỉnh, nhiều CCN được bổ sung diện tích đáng kể. Cụ thể, cụm công nghiệp Tứ Hạ tăng từ 55 ha lên 75 ha; Hương Văn 2 từ 23,87 ha lên 43,87 ha; Hương Phú từ 20 ha lên 75 ha và Bình Thành từ 32 ha lên 75 ha.
Các cụm Phú Diên, Điền Lộc lần lượt tăng lên 39 ha và 66,42 ha; Vinh Hưng điều chỉnh lên 20,36 ha. Ở chiều ngược lại, Hương Hòa giảm từ 20 ha xuống 10 ha. Danh mục cũng xác định quy mô cho Hương Xuân 58 ha, Cầu Hai 32,3 ha và Kon Tôm – Hồng Thượng tại A Lưới 30 ha.
Những thay đổi này cho thấy quy hoạch cụm công nghiệp Huế được điều chỉnh theo nhu cầu phát triển của từng địa bàn, thay vì mở rộng đồng loạt. Tuy nhiên, diện tích bổ sung chỉ có thể đưa vào khai thác sau khi hoàn thiện thủ tục pháp lý, giải phóng mặt bằng và đầu tư hạ tầng theo quy định.

Nhà máy sản xuất tại khu vực Chân Mây – Lăng Cô, minh họa hoạt động sản xuất công nghiệp tập trung tại Huế. Ảnh: Saigon Hue Invest.
Xem thêm: Điều chỉnh quy hoạch Khu công nghiệp Trung Thành: Tăng công suất điện và bổ sung nhà ở công nhân
Trong cơ cấu công nghiệp, CCN tạo mặt bằng sản xuất cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, cơ sở chế biến, gia công và các ngành nghề gắn với nguồn nguyên liệu địa phương.
Đối với Huế, mạng lưới CCN phân bố tại nhiều địa bàn có thể hỗ trợ phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản, cơ khí và công nghiệp hỗ trợ. Những cụm gần vùng nguyên liệu tạo thuận lợi cho hoạt động thu mua, sản xuất và vận chuyển hàng hóa, đồng thời giúp doanh nghiệp giảm bớt một số khâu trung chuyển.
Bên cạnh đó, CCN có thể bổ trợ cho các khu công nghiệp (KCN) thông qua hoạt động cung ứng nguyên liệu, gia công sản phẩm và dịch vụ hỗ trợ sản xuất. Mối liên kết này tạo điều kiện để doanh nghiệp địa phương tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, thay vì chỉ hoạt động độc lập trong từng cụm.
Việc tổ chức sản xuất tập trung còn giúp địa phương đầu tư và quản lý hạ tầng giao thông, cấp nước, xử lý nước thải hiệu quả hơn so với các cơ sở phân tán. Tuy nhiên, khả năng phát huy vai trò của từng CCN phụ thuộc vào ngành nghề được phép tiếp nhận, nhu cầu thực tế của doanh nghiệp và mức độ hoàn thiện hạ tầng.
Mặc dù quy hoạch cụm công nghiệp Huế xác định tổng diện tích 1.700 ha đến năm 2030, khả năng đưa quỹ đất vào khai thác vẫn phụ thuộc vào tiến độ đầu tư của từng dự án.
Theo Phụ lục III của Quyết định số 756/QĐ-UBND, quy mô, diện tích sử dụng đất và tổng mức đầu tư của các CCN được xác định cụ thể theo từng giai đoạn, căn cứ nhu cầu thực tế và khả năng huy động vốn. Trong đó, 329,71 ha dành cho các địa điểm tiềm năng và mở rộng cần tiếp tục được cụ thể hóa trong quá trình triển khai.
Vì vậy, doanh nghiệp tìm kiếm mặt bằng sản xuất cần đối chiếu diện tích quy hoạch với tình trạng pháp lý, tiến độ giải phóng mặt bằng, chủ đầu tư hạ tầng và khả năng tiếp nhận ngành nghề. Các điều kiện về cấp điện, cấp nước, xử lý nước thải và kết nối giao thông cũng ảnh hưởng trực tiếp đến thời điểm đưa nhà máy vào hoạt động.
Một CCN có quy mô lớn nhưng chưa hoàn thiện hạ tầng chưa chắc đáp ứng nhu cầu đầu tư trước mắt. Ngược lại, địa điểm có diện tích thấp hơn nhưng bảo đảm điều kiện pháp lý và kỹ thuật có thể phù hợp hơn với kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp.
Nhìn tổng thể, quy hoạch cụm công nghiệp Huế đến năm 2030 mở rộng không gian sản xuất tại nhiều địa bàn, tạo cơ sở phát triển doanh nghiệp địa phương và tăng liên kết với các KCN. Tuy nhiên, hiệu quả quy hoạch phụ thuộc vào khả năng chuyển quỹ đất thành các CCN có hạ tầng đồng bộ, ngành nghề phù hợp và đủ điều kiện tiếp nhận đầu tư.
Xem thêm: Chính thức công bố thành lập Khu Công nghệ cao đầu tiên quy mô lớn tại Hưng Yên