Quy hoạch công nghiệp Huế đến năm 2030: Mở rộng không gian sản xuất, tăng cường liên kết vùng
Quy hoạch công nghiệp Huế hướng đến phát triển mạng lưới khu công nghiệp, cụm công nghiệp theo nhiều cực, gắn với các hành lang kinh tế và hệ thống logistics, tạo thêm dư địa thu hút đầu tư đến năm 2030.
Trong định hướng phát triển đến năm 2030, TP. Huếchú trọng các ngành công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, cơ khí – lắp ráp ô tô, vật liệu mới, năng lượng sạch và chế biến nông, lâm, thủy sản. Việc lựa chọn ngành nghề được đặt trong mối quan hệ với lợi thế địa phương, khả năng liên kết vùng và yêu cầu bảo vệ môi trường của đô thị di sản.
Theo Quyết định số 756/QĐ-UBND ngày 28/2/2026 về điều chỉnh Quy hoạch thành phố thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050, không gian công nghiệp Huế được tổ chức gắn với mạng lưới đô thị, giao thông và các khu vực động lực. Điểm đáng chú ý không chỉ là mở rộng quỹ đất mà còn ở khả năng hình thành các cực sản xuất có tính liên kết và phù hợp với thế mạnh từng địa bàn.

Toàn cảnh đô thị Huế và sông Hương nhìn từ trên cao. Ảnh: Báo Quân đội nhân dân.
Theo phụ lục điều chỉnh quy hoạch, nhu cầu diện tích phân bổ cho 8 khu công nghiệp (KCN) đến năm 2030 đạt 8.567,5 ha, tăng 354 ha so với phương án trước đó. Phần tăng thêm chủ yếu tập trung tại Phong Điền, với 338 ha, nâng quy mô lên 2.038 ha; KCN Phú Bài tăng 16 ha, đạt 759,5 ha. Các khu vực còn lại gồm La Sơn, Tứ Hạ, Phú Đa, Quảng Vinh và phần diện tích công nghiệp trong hai khu kinh tế Chân Mây – Lăng Cô, cửa khẩu A Đớt.
Sự phân bố này cho thấy Huế định hướng phát triển công nghiệp theo nhiều cực. Phong Điền ở phía bắc gắn với các tuyến giao thông liên vùng; Phú Bài có lợi thế tiếp cận trung tâm đô thị và sân bay; trong khi La Sơn và Chân Mây – Lăng Cô tạo thành các địa bàn công nghiệp quan trọng ở phía nam, kết nối với kinh tế biển và logistics.
Từ góc độ quy hoạch, cấu trúc đa cực mở ra khả năng phân bố ngành nghề phù hợp với điều kiện từng khu vực, đồng thời giảm sự tập trung vào một địa bàn. Tuy nhiên, hiệu quả phụ thuộc vào khả năng hình thành các chuỗi liên kết giữa doanh nghiệp sản xuất, nhà cung ứng và dịch vụ logistics.
Bên cạnh KCN, hệ thống cụm công nghiệp (CCN) được định hướng phát triển nhằm tạo mặt bằng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, các cơ sở chế biến và ngành nghề gắn với nguồn nguyên liệu địa phương.
Theo hồ sơ điều chỉnh quy hoạch, diện tích CCN đã hình thành được nêu ở mức 415,11 ha, trong khi quy mô quy hoạch đến năm 2030 khoảng 1.700 ha. Danh mục gồm các cụm đang có và cụm dự kiến tại Hương Trà, Hương Thủy, Nam Đông, Phú Vang, Phong Điền, Phú Lộc và A Lưới. Một số cụm được điều chỉnh quy mô tăng, một số giữ nguyên, và Hương Hòa giảm từ 20 ha xuống 10 ha. Bên cạnh danh mục địa điểm, phụ lục còn dành diện tích cho tiềm năng mở rộng và phát triển ở địa phương.
Đây là dư địa phát triển đáng kể, song cũng đặt ra yêu cầu về phân bổ nguồn lực và lựa chọn dự án có tính khả thi.
Trong mạng lưới công nghiệp, CCN có thể bổ trợ cho KCN thông qua các hoạt động gia công, chế biến, cung ứng nguyên liệu và dịch vụ hỗ trợ sản xuất. Mô hình liên kết này góp phần tạo điều kiện để doanh nghiệp địa phương tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng.
Tuy nhiên, việc mở rộng CCN cần gắn với nhu cầu thực tế, khả năng tiếp cận giao thông, nguồn lao động và hạ tầng kỹ thuật. Đặc biệt, hệ thống cấp nước, xử lý nước thải và kiểm soát môi trường cần được đầu tư đồng bộ để tránh phát triển phân tán, làm gia tăng chi phí vận hành.
Xem thêm: Gia Lai chấp thuận quy hoạch KCN Long Mỹ giai đoạn 2 gần 109 ha, vốn hơn 1.433 tỷ đồng
Lợi thế công nghiệp Huế còn đến từ vị trí trên các hành lang kinh tế liên vùng. Trong đó, hành lang Bắc – Nam phía Đông kết nối các khu vực công nghiệp Phong Điền, Phú Bài, La Sơn với các trung tâm sản xuất thông qua Quốc lộ 1, cao tốc và đường sắt Bắc – Nam.
Ở phía nam, Khu kinh tế Chân Mây – Lăng Cô giữ vai trò kết nối công nghiệp với kinh tế biển, lấy cảng Chân Mây làm một trong những đầu mối quan trọng. Cùng với hành lang Đông – Tây, khu vực này có tiềm năng mở rộng hoạt động vận chuyển hàng hóa và dịch vụ logistics phục vụ thị trường liên vùng.

Tàu hàng tại cảng Chân Mây, đầu mối giao thương đường biển của TP. Huế. Ảnh: Huế ngày nay.
Tuy nhiên, lợi thế vị trí chỉ có thể chuyển thành hiệu quả kinh tế khi giao thông, cảng biển và các dịch vụ logistics được kết nối đồng bộ. Đối với từng KCN, khả năng tiếp cận nút giao, tuyến vận tải chính và các đầu mối hàng hóa có ý nghĩa thiết thực hơn khoảng cách thể hiện trên bản đồ.
Việc mở rộng mạng lưới KCN, CCN và tăng cường liên kết vùng tạo nền tảng phát triển công nghiệp Huế đến năm 2030. Dù vậy, diện tích được phân bổ trong quy hoạch không đồng nghĩa toàn bộ quỹ đất đã giải phóng mặt bằng, hoàn thiện hạ tầng hoặc sẵn sàng cho thuê.
Đối với nhà đầu tư, khả năng tiếp nhận dự án cần được đánh giá thông qua tình trạng pháp lý, tiến độ triển khai, năng lực cấp điện, cấp nước, xử lý nước thải và điều kiện kết nối giao thông. Những yếu tố này đặc biệt quan trọng với các ngành công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ và sản xuất có yêu cầu kỹ thuật, môi trường nghiêm ngặt.
Với đặc thù đô thị di sản, Huế còn phải cân bằng giữa mở rộng sản xuất và bảo vệ cảnh quan, môi trường sinh thái. Vì vậy, lựa chọn ngành nghề phù hợp, sử dụng đất hiệu quả và phát triển hạ tầng đồng bộ cần được đặt song hành với mục tiêu thu hút đầu tư.
Nhìn tổng thể, quy hoạch công nghiệp Huế đang hướng đến mạng lưới sản xuất đa cực, trong đó KCN thu hút các dự án quy mô lớn, CCN hỗ trợ doanh nghiệp địa phương, còn Chân Mây – Lăng Cô và các hành lang kinh tế đóng vai trò kết nối vùng.
Khả năng chuyển quỹ đất quy hoạch thành hạ tầng sẵn sàng phục vụ sản xuất, đồng thời hình thành chuỗi liên kết ngành, sẽ là yếu tố quyết định sức cạnh tranh công nghiệp của Huế trong giai đoạn tới.
Xem thêm: KCN Bản Qua: Quy hoạch hạ tầng gắn với định hướng công nghiệp sạch