Quy hoạch khu công nghiệp Huế thời kỳ 2021 - 2030 tầm nhìn đến năm 2050 được điều chỉnh lên 8.567,5 ha, tăng 354 ha tại Phong Điền và Phú Bài, trong khi 6 khu vực còn lại giữ nguyên quy mô.
Quy hoạch Huế2030 đang xác lập mạng lưới không gian công nghiệp sản xuất trải rộng từ phía bắc, khu vực trung tâm đến phía nam và khu kinh tế cửa khẩu. Với quy mô, vị trí và điều kiện kết nối khác nhau, mỗi khu công nghiệp (KCN) có vai trò riêng trong việc đáp ứng nhu cầu địa điểm sản xuất của doanh nghiệp.
Theo Phụ lục III ban hành kèm Quyết định số 756/QĐ-UBND ngày 28/2/2026 của UBND TP. Huế, tổng nhu cầu diện tích phân bổ cho 8 KCN đến năm 2030 tăng từ 8.213,5 ha lên 8.567,5 ha. Đáng chú ý, diện tích điều chỉnh chỉ tập trung tại hai khu vực, cho thấy việc mở rộng quỹ đất công nghiệp có sự phân bổ khác nhau giữa các địa bàn.

Toàn cảnh KCN Phong Điền – Hàn Quốc từ trên cao. Ảnh: Tạp chí Công Thương.
Theo danh mục điều chỉnh, hệ thống khu công nghiệp Huế gồm sáu KCN được liệt kê theo tên riêng và hai khu vực bố trí đất công nghiệp trong Khu kinh tế Chân Mây – Lăng Cô, Khu kinh tế cửa khẩu A Đớt.
Trong đó, diện tích công nghiệp tại Chân Mây – Lăng Cô chiếm quy mô lớn nhất với 3.680 ha, tương đương khoảng 43% tổng nhu cầu diện tích phân bổ. Tiếp đến là Phong Điền với 2.038 ha và La Sơn với 1.300 ha. Các khu vực còn lại có quy mô từ 140 ha đến 759,5 ha.
Danh mục này phản ánh định hướng phân bố đất công nghiệp đến năm 2030, không phải toàn bộ diện tích đã được đầu tư hạ tầng hoặc đủ điều kiện cho thuê. Đặc biệt, phần diện tích công nghiệp trong hai khu kinh tế cần được tiếp tục xác định cụ thể theo quy hoạch xây dựng và dự án đầu tư.
Đối với nhà đầu tư, việc nắm rõ quy mô từng khu là bước đầu để tìm kiếm địa điểm phù hợp. Tuy nhiên, diện tích lớn hay nhỏ chỉ phản ánh một phần khả năng đáp ứng nhu cầu sản xuất; điều kiện triển khai thực tế còn phụ thuộc vào quỹ đất khả dụng, hạ tầng và chức năng ngành nghề của từng KCN.
Điểm nổi bật trong lần điều chỉnh KCN tại Huế lần này là toàn bộ 354 ha tăng thêm tập trung tại hai KCN Phong Điền và Phú Bài.
Cụ thể, Phong Điền tăng 338 ha, từ 1.700 ha lên 2.038 ha, chiếm khoảng 95,5% tổng diện tích điều chỉnh tăng. Khu vực quy hoạch trải trên các phường Phong Điền, Phong Dinh, Phong Thái và xã Đan Điền. Đây cũng là KCN có nhu cầu diện tích lớn thứ hai trong toàn bộ danh mục.
Trong khi đó, KCN Phú Bài tại phường Phú Bài được bổ sung 16 ha, nâng quy mô từ 743,5 ha lên 759,5 ha. Mức tăng thấp hơn đáng kể so với Phong Điền, nhưng tiếp tục bổ sung diện tích quy hoạch cho khu vực công nghiệp có vị trí gần trung tâm đô thị và sân bay Phú Bài.
Sự khác biệt về mức điều chỉnh cho thấy hai khu vực có quy mô mở rộng không giống nhau. Trong khi Phong Điền được bổ sung phần lớn quỹ đất, Phú Bài điều chỉnh ở mức hạn chế hơn. Tuy nhiên, số liệu diện tích chưa đủ để kết luận về tiến độ phát triển hoặc khả năng tiếp nhận thêm doanh nghiệp tại mỗi khu.
Việc mở rộng tại Phong Điền và Phú Bài vì vậy cần được đối chiếu với quy hoạch phân khu, dự án đầu tư hạ tầng, tiến độ giải phóng mặt bằng và các điều kiện cấp điện, cấp nước, xử lý nước thải.

Nhà xưởng và hạ tầng KCN Phú Bài nhìn từ trên cao. Ảnh: Redsunland
Xem thêm: KCN Bản Qua: Quy hoạch hạ tầng gắn với định hướng công nghiệp sạch
Bên cạnh Phong Điền và Phú Bài, sáu khu vực còn lại giữ nguyên quy mô theo phương án quy hoạch trước đó, gồm La Sơn 1.300 ha, Tứ Hạ 250 ha, Phú Đa 250 ha, Quảng Vinh 150 ha, diện tích công nghiệp trong Khu kinh tế Chân Mây – Lăng Cô 3.680 ha và trong Khu kinh tế cửa khẩu A Đớt 140 ha.
Xét về không gian, mạng lưới KCN Huế được phân bố theo nhiều khu vực có đặc điểm phát triển khác nhau. Phong Điền và Quảng Vinh nằm ở phía bắc, trong khi Tứ Hạ, Phú Bài và Phú Đa thuộc các địa bàn có khả năng kết nối với khu vực đô thị và các trục giao thông của thành phố.
Ở phía nam, La Sơn nằm trên địa bàn các xã Hưng Lộc và Lộc An, bổ sung không gian sản xuất nội địa. Trong khi đó, phần diện tích công nghiệp thuộc Khu kinh tế Chân Mây – Lăng Cô gắn với định hướng phát triển kinh tế biển, cảng Chân Mây và hoạt động logistics.
Riêng khu vực công nghiệp trong Khu kinh tế cửa khẩu A Đớt tại xã A Lưới 4 thể hiện định hướng bố trí đất công nghiệp tại địa bàn biên giới. Tuy nhiên, khả năng phát triển sản xuất tại đây cần được đánh giá theo điều kiện giao thông, hạ tầng kỹ thuật và nhu cầu đầu tư thực tế.
Sự phân bố này cho thấy các KCN Huế không tập trung tại một địa bàn mà trải rộng trên nhiều không gian phát triển. Đây là cơ sở để doanh nghiệp lựa chọn vị trí theo nhu cầu diện tích, nguồn lao động, hướng vận chuyển hàng hóa và khả năng tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ.
Chẳng hạn, doanh nghiệp thường xuyên xuất nhập khẩu bằng đường biển có thể quan tâm đến khả năng kết nối khu vực Chân Mây – Lăng Cô, trong khi những dự án cần tiếp cận trung tâm đô thị, sân bay và hệ thống giao thông hiện hữu có thể xem xét các địa điểm tại Phú Bài.
Tuy nhiên, vị trí địa lý không đồng nghĩa với việc mọi ngành nghề đều được phép đầu tư tại từng KCN. Việc lựa chọn cần căn cứ vào chức năng sử dụng đất, danh mục ngành nghề thu hút, quy hoạch xây dựng và điều kiện môi trường đã được phê duyệt.
Một vấn đề quan trọng khi đánh giá quy hoạch khu công nghiệp Huế là phân biệt giữa diện tích được phân bổ đến năm 2030 và diện tích đã hoàn thiện hạ tầng, đủ điều kiện tiếp nhận doanh nghiệp.
Vì vậy, tổng diện tích 8.567,5 ha không thể được hiểu là quỹ đất công nghiệp sẵn sàng cho thuê. Ngay cả những KCN có quy mô quy hoạch lớn, khả năng tiếp nhận dự án vẫn phụ thuộc vào tiến độ giải phóng mặt bằng, đầu tư hạ tầng và hoàn thiện thủ tục pháp lý.
Đối với doanh nghiệp tìm kiếm địa điểm sản xuất, trước hết cần xác định phần diện tích có thể tiếp cận tại từng KCN, tình trạng pháp lý và tiến độ bàn giao. Tiếp đó là năng lực hạ tầng kỹ thuật, bao gồm cấp điện, cấp nước, xử lý nước thải, giao thông nội khu và kết nối với các đầu mối vận tải bên ngoài.
Bên cạnh hiện trạng hạ tầng, nhà đầu tư cũng cần xem xét khả năng mở rộng nhà máy, yêu cầu về môi trường, dịch vụ hỗ trợ lao động và chi phí vận hành dài hạn. Đây là những tiêu chí giúp so sánh các KCN trên cùng một cơ sở, thay vì chỉ dựa vào quy mô hoặc giá thuê đất ban đầu.
Đối với nhà đầu tư, giá trị của quy hoạch không chỉ nằm ở tổng diện tích đất công nghiệp mà còn ở khả năng xác định địa điểm phù hợp với nhu cầu sản xuất. Việc đối chiếu quy mô quy hoạch với ranh giới, ngành nghề, tiến độ hạ tầng và quỹ đất thực tế sẽ giúp doanh nghiệp lựa chọn KCN có cơ sở hơn, đồng thời phân biệt rõ tiềm năng phát triển với khả năng tiếp nhận dự án hiện tại.
Xem thêm: Quy hoạch công nghiệp Huế đến năm 2030: Mở rộng không gian sản xuất, tăng cường liên kết vùng