Kênh đào Bình Lục không chỉ định hình lại dòng chảy logistics từ Trung Quốc xuống Đông Nam Á, mà còn đặt ra thách thức cho các nước ASEAN về tận dụng làn sóng đầu tư này để phát triển đội ngũ kỹ sư, nhà quản lý và chuỗi cung ứng độc lập hay không.
Khi các tập đoàn dịch chuyển cơ sở sản xuất ra khỏi biên giới để tìm kiếm các địa điểm mới, chiến lược "Trung Quốc cộng một" thường được xem là giải pháp giảm thiểu rủi ro. Tuy nhiên, đằng sau sự bùng nổ của các nhà máy mới tại Đông Nam Á lại là một thực tế khách quan: sự phụ thuộc sâu sắc vào mạng lưới máy móc, linh kiện và chuyên gia kỹ thuật từ đại lục.
Việc khai trương những tuyến giao thông huyết mạch mới như kênh đào Bình Lục cho thấy Bắc Kinh đang kỳ vọng duy trì và nối dài hệ sinh thái công nghiệp của mình sang khu vực.
Trong nhiều thế hệ, hàng hóa từ vùng Quảng Tây (Trung Quốc) vốn xuôi theo dòng Tây Giang hướng về phía đông để ra biển tại Quảng Châu. Tuy nhiên, kênh đào Bình Lục dài 134 km chính thức mở cửa vào ngày 16/9 đã đảo chiều tuyến đường này về phía Nam, kết nối hệ thống Tây Giang với vịnh Bắc Bộ thuộc Biển Đông.
Công trình được thiết kế cho tàu trọng tải 5.000 tấn này giúp rút ngắn hơn 560 km so với tuyến đường cũ, đồng thời là dự án trọng điểm trong Hành lang Thương mại Đường bộ - Đường biển Quốc tế mới do Bắc Kinh hậu thuẫn nhằm kết nối miền tây Trung Quốc với Đông Nam Á.
Dù chiến lược "Trung Quốc cộng một" đã thúc đẩy làn sóng dịch chuyển nhà máy sang ASEAN, thực tế cho thấy phần lớn các cơ sở sản xuất có vốn Trung Quốc vẫn phụ thuộc vào hệ thống máy móc, linh kiện, kỹ sư và tri thức kỹ thuật từ nước này. Điều đó phản ánh một thực tế rằng các nhà máy có thể rời khỏi Trung Quốc, nhưng mạng lưới sản xuất cốt lõi thì chưa hẳn đã tách rời. Chiến lược này chủ yếu định hình địa điểm đặt nhà máy của các công ty, chứ chưa thay đổi được toàn bộ chuỗi cung ứng và chuyên gia đứng sau đó.
Thực tế này thể hiện rõ qua các mô hình công nghiệp khi Thái Lan thu hút nhiều nhà máy xe điện (EV) và chuỗi cung ứng với giá trị dự án đạt 4,1 tỷ USD tính đến tháng 6/2025 kèm theo các nhà cung ứng Trung Quốc (song phần lớn pin xe điện vẫn phải nhập khẩu trực tiếp từ đại lục).
Trong khi Indonesia tận dụng lệnh cấm xuất khẩu nguyên liệu thô để thu hút doanh nghiệp Trung Quốc xây dựng năng lực luyện niken chiếm tới 62% sản lượng khai thác mỏ toàn cầu năm 2024 nhằm xuất khẩu các sản phẩm giá trị cao hơn, dẫu mức độ hấp thụ tri thức kỹ thuật của doanh nghiệp sở tại tại cả hai quốc gia vẫn cần thêm thời gian để kiểm chứng.
Xem thêm: Kế hoạch đầu tư gần 5 tỷ USD của Samsung đưa Việt Nam tiến sâu vào chuỗi giá trị bán dẫn

Hoạt động giao thông hàng hải và logistics trên các tuyến hành lang kết nối miền nam Trung Quốc với khu vực.
Bài toán phát triển công nghiệp bao gồm năng lực sản xuất của nhà máy, sản lượng thực tế và giá trị gia tăng tạo ra tại chỗ. Tuy nhiên, yếu tố quyết định nằm ở năng lực thực chất tức đội ngũ kỹ sư, nhà quản lý, mạng lưới nhà cung ứng và các cơ quan có khả năng vận hành, cải tiến dây chuyền và tự thiết kế các bước tiếp theo.
Số liệu thống kê thương mại đôi khi chưa phản ánh hết bức tranh toàn cảnh. Nghiên cứu năm 2025 của Viện Lowy cho thấy với mỗi 100 USD giá trị hàng hóa Đông Nam Á xuất khẩu, khoảng 67 USD được tạo ra trong khu vực và 7 USD từ Trung Quốc. Mặc dù một linh kiện độc quyền hay cỗ máy chuyên dụng có thể đóng góp tỷ trọng nhỏ vào tổng giá trị sản phẩm, nhưng nó lại mang tính quyết định liệu mặt hàng đó có thể được sản xuất hay không.
Số liệu xuất khẩu có thể cho biết giá trị được tạo ra ở đâu, nhưng không thể giải đáp câu hỏi ai là người sửa chữa dây chuyền hỏng, thẩm định nhà cung ứng, cải tiến quy trình hay phát triển sản phẩm mới. Phần lớn tri thức đó nằm sâu bên trong cấu trúc vận hành nội bộ của các tập đoàn.
Kinh nghiệm phát triển Khu công nghiệp Tô Châu từ Singapore cho thấy hạ tầng vật chất chỉ là bước khởi điểm. Để thu hút đầu tư, điều kiện tiên quyết là hệ thống quy định minh bạch, thời gian phê duyệt dự án có thể dự báo trước và sự thực thi nhất quán. Quá trình chuyển giao chỉ thực sự thành công khi giới chức địa phương tiếp thu, tự vận hành và lan tỏa các phương pháp đó sang các hệ thống khác.
ASEAN không thể sao chép hoàn toàn một mô hình duy nhất, bởi các kỹ sư, nhà quản lý và cơ quan chức năng phải tự học hỏi qua từng nhà máy và từng quốc gia. Dù khu vực từng đón nhận dòng vốn và công nghệ từ các doanh nghiệp Mỹ, châu Âu tại Penang (Malaysia) hay các nhà sản xuất Nhật Bản tại ngành ô tô Thái Lan, việc chuyển giao năng lực chưa bao giờ diễn ra một cách tự động.
Trong khi Washington và Brussels áp dụng các công cụ thuế quan và hạn chế tiếp cận thị trường để định hình lại địa điểm lắp ráp sản phẩm, Bắc Kinh lại đặt cược vào chiến lược duy trì chuỗi cung ứng linh kiện, thiết bị và đội ngũ chuyên gia đi kèm qua các dự án hạ tầng như kênh đào Bình Lục. Chính quyền các nước ASEAN vẫn nắm giữ những công cụ chiến lược quan trọng: sử dụng ưu đãi để thu hút lắp ráp, dùng tài nguyên để gắn với yêu cầu chuyển giao công nghệ, đồng thời hỗ trợ nhà cung ứng nội địa sản xuất linh kiện phức tạp và đào tạo kỹ sư.
Kết quả công nghiệp hóa cuối cùng sẽ không nằm ở các thông cáo báo chí về đầu tư hay tổng kim ngạch xuất khẩu, mà xác định ở việc ai là người làm chủ kỹ thuật sửa chữa máy móc, cải tiến quy trình, thiết kế sản phẩm mới và quyết định dòng vốn đầu tư tiếp theo sẽ đặt vào đâu.
Nếu các nhà cung ứng cốt lõi và tri thức công nghệ vẫn nằm trọn ở Trung Quốc, thì địa lý công nghiệp của nước này sẽ mở rộng vượt qua biên giới chính trị. Ngược lại, nếu ASEAN học được cách tự tái tạo những gì được chuyển giao, khu vực này sẽ hoàn toàn làm chủ tương lai công nghiệp của chính mình.
Xem thêm: Doanh nghiệp châu Âu thúc đẩy Hiệp định thương mại tự do với ASEAN