Quá trình chuyển đổi khu công nghiệp sinh thái tại Hải Phòng vẫn gặp nhiều vướng mắc từ chi phí tư vấn, hạ tầng đến cơ chế chia sẻ tài nguyên. Thành phố đang tính đến những giải pháp hỗ trợ nào để tháo gỡ các rào cản này

Toàn cảnh KCN Nam Cầu Kiền – một trong những mô hình được Hải Phòng định hướng chuyển đổi theo hướng sinh thái, gắn phát triển sản xuất với bảo vệ môi trường. Nguồn: Duy Thính
Ngày 2/11, UBND TP. Hải Phòng cho biết đang đề xuất HĐND thành phố xem xét cơ chế, chính sách hỗ trợ chuyển đổi và xây dựng khu công nghiệp sinh thái với tổng kinh phí dự kiến 127,55 tỷ đồng trong giai đoạn 2026–2030. Trong đó, ngân sách thành phố dự kiến bố trí 103,6 tỷ đồng, phần còn lại 23,95 tỷ đồng được huy động từ các nguồn hợp pháp khác.
Trong tổng ngân sách đề xuất, 80 tỷ đồng dành cho hỗ trợ kỹ thuật, đánh giá và công nghệ; 4 tỷ đồng hỗ trợ lãi suất đầu tư hạ tầng dùng chung; 2 tỷ đồng thúc đẩy kết nối, hợp tác và cộng sinh công nghiệp. Khoản kinh phí 17,6 tỷ đồng còn lại phục vụ giải quyết thủ tục đầu tư, hành chính, hải quan, hạ tầng, dữ liệu dùng chung, nghiên cứu cơ chế thử nghiệm có kiểm soát và đào tạo năng lực quản lý, vận hành khu công nghiệp sinh thái.
Hải phòng dự kiến hỗ trợ đánh giá kỹ thuật đến đầu tư hạ tầng
Đối với chủ đầu tư hạ tầng, thành phố dự kiến hỗ trợ đánh giá mức độ sẵn sàng, khả năng đáp ứng tiêu chí sinh thái, xây dựng đường cơ sở và kế hoạch hành động; kiểm toán năng lượng, nước; đánh giá hiệu quả sử dụng tài nguyên, sản xuất sạch hơn, kiểm kê khí nhà kính và lập hồ sơ đề nghị chứng nhận khu công nghiệp sinh thái. Doanh nghiệp thứ cấp cũng được hỗ trợ đánh giá hiệu quả sử dụng tài nguyên, năng lượng, nước, áp dụng sản xuất sạch hơn, kiểm kê khí nhà kính và chuẩn bị hồ sơ chứng nhận doanh nghiệp sinh thái.
Bên cạnh hỗ trợ kỹ thuật, Hải Phòng đề xuất hỗ trợ lãi suất 2%/năm trên dư nợ vay thực tế đối với các khoản vay trung và dài hạn bằng đồng Việt Nam tại Quỹ Đầu tư phát triển thành phố. Chính sách áp dụng cho các dự án xây dựng, nâng cấp công trình xử lý và tái sử dụng nước thải, hệ thống lưu trữ năng lượng, đường ống kỹ thuật dùng chung và trạm trung chuyển phụ phẩm công nghiệp. Thời gian hỗ trợ tối đa 3 năm, mức hỗ trợ không quá 1 tỷ đồng/dự án.
Thành phố cũng dự kiến hỗ trợ khảo sát, nhận diện cơ hội cộng sinh công nghiệp, tư vấn kỹ thuật, hướng dẫn pháp lý và kết nối cung – cầu nguyên liệu, vật liệu, nước, năng lượng, hạ tầng, vận tải, dịch vụ giữa các doanh nghiệp. Một số mô hình như trao đổi nước công nghiệp sau xử lý, chia sẻ năng lượng tự sản xuất, tự tiêu thụ và tái sử dụng phụ phẩm có thể được nghiên cứu triển khai theo cơ chế thử nghiệm có kiểm soát. Tuy nhiên, các hoạt động này chỉ được thực hiện sau khi có sự cho phép của cấp có thẩm quyền và đáp ứng các điều kiện pháp lý, kỹ thuật, an toàn, môi trường.
Theo phương án phân kỳ, kinh phí hỗ trợ dự kiến là 34,9 tỷ đồng trong năm 2027, 51,15 tỷ đồng năm 2028, 17 tỷ đồng năm 2029 và 24,5 tỷ đồng năm 2030.
Chi phí, hạ tầng và cơ chế pháp lý vẫn là rào cản chuyển đổi
Xem thêm: Hải Phòng nâng cấp hạ tầng và dịch vụ, tối ưu sức hút đầu tư vào các Khu công nghiệp

Khu xử lý nước thải tại KCN Nam Cầu Kiền. Nâng cao hiệu quả xử lý và tái sử dụng nước là một trong những nội dung quan trọng trong quá trình chuyển đổi KCN sinh thái. Nguồn: Trung Kiên
Đề xuất trên được đưa ra trong bối cảnh Hải Phòng hiện có 50 khu công nghiệp được thành lập, tổng diện tích khoảng 13.856,32 ha, trong đó 25 khu đang hoạt động. Theo Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng, các khu công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung với công suất thiết kế khoảng 165.000 m³/ngày đêm, lưu lượng xả thải thực tế khoảng 78.000 m³/ngày đêm. Tuy nhiên, tỷ lệ tái sử dụng nước thải sau xử lý vẫn dưới 3,5%; hoạt động trao đổi, tái sử dụng phụ phẩm, chất thải và liên kết cộng sinh công nghiệp chưa được triển khai đồng bộ.
Một trong những rào cản đáng chú ý là chi phí chuẩn bị hồ sơ đáp ứng tiêu chí sinh thái. Qua khảo sát 104 doanh nghiệp, Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng cho biết chi phí thuê tư vấn kiểm toán năng lượng, kiểm kê khí nhà kính và đánh giá hiệu quả sử dụng tài nguyên, sản xuất sạch hơn có thể lên tới 300–500 triệu đồng đối với một khu công nghiệp và 100–150 triệu đồng đối với mỗi doanh nghiệp thứ cấp. Trong khi đó, ưu đãi theo Điều 39 Nghị định số 35/2022/NĐ-CP chỉ được áp dụng sau khi khu công nghiệp hoặc doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận.
Ngoài áp lực chi phí, một số hoạt động phục vụ cộng sinh công nghiệp còn vướng quy định pháp lý. Việc cung cấp nước thải sau xử lý cho doanh nghiệp khác tái sử dụng qua đường ống nội bộ khu công nghiệp chưa được quy định cụ thể; cơ chế chia sẻ sản lượng điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ dư thừa giữa các doanh nghiệp qua lưới điện nội bộ cũng thiếu hướng dẫn. Việc phân loại, luân chuyển phụ phẩm như xỉ hạt lò cao tại các nhà máy luyện thép Nam Cầu Kiền hay thạch cao từ nhà máy hóa chất Đình Vũ cũng phát sinh khó khăn nếu chưa đáp ứng tiêu chuẩn, quy chuẩn sản phẩm, hàng hóa và phải quản lý theo quy định về chất thải.

Tích hợp năng lượng tái tạo vào hạ tầng khu công nghiệp tại KCN DEEP C Hải Phòng II. Nguồn: DEEP C
Đối với các khu công nghiệp hình thành trước năm 2010 như Nomura, Đồ Sơn và Đình Vũ (DEEP C1), thách thức còn nằm ở quỹ đất. Các khu này đã lấp đầy 100%, không còn diện tích để mở rộng cây xanh trong ranh giới hiện hữu. Theo tiêu chí được đề cập trong phương án, khu công nghiệp sinh thái cần dành tối thiểu 25% diện tích cho cây xanh, giao thông và hạ tầng kỹ thuật dùng chung, trong đó đất cây xanh chiếm ít nhất 10%. Riêng Đình Vũ (DEEP C1), tỷ lệ đất cây xanh hiện đạt 5,61%, tương ứng khoảng 30,4 ha.
Trước thực tế này, Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng dự kiến tham mưu UBND thành phố kiến nghị Bộ Xây dựng hướng dẫn áp dụng tiêu chí đối với các khu công nghiệp hiện hữu, đồng thời khuyến khích phát triển cây xanh trên mái, tường xanh và hành lang xanh.
Xem thêm: Hải Phòng bổ sung gần 8.000 ha đất Khu công nghiệp và bài toán cạnh tranh bằng hệ sinh thái sản xuất