Văn bản hợp nhất số 71/2026/VBHN-BCT đang tạo khung pháp lý thống nhất cho phát triển cụm công nghiệp, đồng thời mở rộng đối tượng khuyến khích đầu tư, đơn giản hóa thủ tục và nâng yêu cầu về hiệu quả hạ tầng, sử dụng đất và bảo vệ môi trường.
Mở rộng đối tượng, định hướng phát triển cụm công nghiệp bền vững

Ảnh minh họa
Văn bản hợp nhất kế thừa Nghị định 32/2024/NĐ-CP và cập nhật các nội dung sửa đổi tại Nghị định 303/2026/NĐ-CP. Theo đó, cụm công nghiệp tiếp tục được định hướng là không gian sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ phục vụ sản xuất, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, với diện tích từ 5 ha đến không quá 75 ha.
Quy định mới tách rõ ba nhóm gồm ngành, nghề được khuyến khích; tổ chức, cá nhân được khuyến khích đầu tư và các loại hình cụm công nghiệp được ưu tiên phát triển. Trong đó, doanh nghiệp công nghệ cao và doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo được bổ sung vào nhóm được khuyến khích đầu tư. Các mô hình như cụm công nghiệp làng nghề, chuyên ngành, công nghiệp hỗ trợ, công nghệ cao, sinh thái và các mô hình theo hướng thông minh, hiệu quả, bền vững cũng được khuyến khích.
Nhóm ngành được ưu tiên trải rộng từ công nghiệp chế biến, chế tạo phục vụ nông nghiệp, cơ khí, công nghiệp hỗ trợ, dệt may, da giày đến công nghệ thông tin, điện tử, năng lượng tái tạo, tự động hóa, vật liệu mới, công nghệ sinh học và công nghiệp môi trường. Việc lựa chọn ngành, nghề và loại hình cụm công nghiệp cụ thể được gắn với phương hướng phát triển trong quy hoạch tỉnh, định hướng kinh tế - xã hội và điều kiện thực tế của từng địa phương.
Đáng chú ý, điều kiện thành lập cụm công nghiệp được điều chỉnh theo hướng phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp và tăng hiệu quả sử dụng đất. Trường hợp địa bàn cấp xã đã có cụm công nghiệp, việc thành lập mới phải gắn với tỷ lệ lấp đầy bình quân trên 50% hoặc tổng quỹ đất công nghiệp chưa cho thuê của các cụm công nghiệp không vượt quá 50 ha.
Đối với mở rộng cụm công nghiệp, quy định yêu cầu tỷ lệ lấp đầy tối thiểu 50% hoặc nhu cầu thuê đất công nghiệp vượt quá diện tích đất công nghiệp hiện có. Đồng thời, các công trình hạ tầng kỹ thuật dùng chung thiết yếu như giao thông nội bộ, cấp nước, thu gom và xử lý nước thải phải được hoàn thành, đưa vào sử dụng theo quy hoạch được duyệt.
Xem thêm: Huế hút gần 9.300 tỷ đồng vào các khu kinh tế, khu công nghiệp sau 7 tháng
Những điều kiện này cho thấy định hướng quản lý không chỉ tập trung vào việc tạo thêm quỹ đất mà đặt trọng tâm vào khả năng khai thác hiệu quả hạ tầng hiện hữu, nhu cầu thực tế của doanh nghiệp và khả năng thu hút đầu tư.
Đơn giản thủ tục, tăng trách nhiệm chủ đầu tư và địa phương
Ảnh minh họa
Một điểm đáng chú ý khác của Nghị định 303/2026/NĐ-CP là sửa đổi hồ sơ, trình tự thành lập, mở rộng cụm công nghiệp theo hướng chuyển từ cơ chế tiền kiểm sang tăng cường hậu kiểm. Một số hồ sơ, tài liệu không cần thiết được rà soát, loại bỏ, đồng thời thời gian tiếp nhận và xử lý thủ tục hành chính được điều chỉnh giảm. Nghị định có hiệu lực từ ngày 15/9/2026.
Việc đơn giản hóa thủ tục được kỳ vọng rút ngắn thời gian chuẩn bị dự án, tạo điều kiện cho địa phương và nhà đầu tư triển khai các cụm công nghiệp có nhu cầu thực tế. Tuy nhiên, cùng với việc giảm yêu cầu về thủ tục, trách nhiệm của chủ đầu tư và cơ quan quản lý được đặt rõ hơn.
Chủ đầu tư xây dựng hạ tầng phải huy động nguồn lực, tổ chức thi công và vận hành hệ thống hạ tầng, duy tu công trình, cung cấp dịch vụ công cộng, đồng thời bảo đảm tuân thủ quy định về đất đai, xây dựng, môi trường, phòng cháy chữa cháy và các lĩnh vực liên quan. Việc thu hút dự án cũng phải phù hợp với ngành, nghề theo quy hoạch và định hướng của cụm công nghiệp.
Các doanh nghiệp sản xuất được thuê lại đất, nhà xưởng, kho bãi, sử dụng hạ tầng và dịch vụ trong cụm công nghiệp, nhưng phải sử dụng đất đúng mục đích, triển khai dự án theo quy định và đáp ứng các yêu cầu về môi trường, an toàn lao động, phòng cháy chữa cháy.
Về hỗ trợ đầu tư, các dự án hạ tầng và sản xuất kinh doanh trong cụm công nghiệp được hưởng chính sách ưu đãi theo pháp luật về đất đai, thuế, tín dụng và các quy định liên quan. Ngân sách địa phương có thể hỗ trợ một số hạng mục hạ tầng như giao thông, cấp điện, cấp nước, thoát nước, xử lý nước thải và thông tin liên lạc theo quy định.
Bên cạnh đó, trách nhiệm quản lý được phân định giữa Bộ Công Thương, UBND cấp tỉnh và cấp xã. Bộ Công Thương thực hiện vai trò quản lý nhà nước trên phạm vi cả nước, xây dựng chính sách, hướng dẫn chế độ báo cáo, cơ sở dữ liệu, xúc tiến đầu tư, kiểm tra và đánh giá. UBND cấp tỉnh chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện phương hướng phát triển, quyết định thành lập, mở rộng cụm công nghiệp và chỉ đạo các hoạt động hỗ trợ đầu tư.
Xem thêm: Gia Lai tiếp tục đẩy mạnh thu hút nhà đầu tư xây dựng hạ tầng các Cụm công nghiệp
Trong bối cảnh nhiều địa phương đang có nhu cầu mở rộng không gian sản xuất, việc hợp nhất và cập nhật hệ thống quy định về cụm công nghiệp tạo cơ sở pháp lý thống nhất hơn cho cả cơ quan quản lý và doanh nghiệp. Điểm đáng chú ý của chính sách mới là không khuyến khích phát triển cụm công nghiệp theo hướng tăng số lượng đơn thuần, mà chú trọng tỷ lệ lấp đầy, năng lực hạ tầng, chất lượng nhà đầu tư, ngành nghề phù hợp và hiệu quả sử dụng đất.
Đây cũng là cơ sở để cụm công nghiệp từng bước chuyển sang mô hình phát triển có chọn lọc, ưu tiên công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, sản xuất sạch và các ngành tạo giá trị gia tăng, qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và đóng góp bền vững hơn cho kinh tế địa phương.