Quy hoạch 199ha Khu công nghệ cao sinh học Hà Nội: Quỹ đất nghiên cứu, sản xuất và dịch vụ được bố trí ra sao?
Khu công nghệ cao sinh học Hà Nội được quy hoạch kết hợp không gian công nghệ cao, nghiên cứu, đào tạo và các công trình dịch vụ. Cơ cấu sử dụng đất cho thấy định hướng hình thành một hệ sinh thái công nghệ sinh học thay vì chỉ tập trung phát triển nhà máy sản xuất.

Bản đồ quy hoạch phân khu Khu công nghệ cao sinh học Hà Nội. Ảnh: Thư Viện Nhà Đất
Khu công nghệ cao sinh học Hà Nội có diện tích quy hoạch 199,03ha, được Thủ tướng Chính phủ thành lập theo Quyết định số 1054/QĐ-TTg ngày 29/9/2024. Ngày 4/6/2025, UBND TP. Hà Nội ban hành Quyết định số 2788/QĐ-UBND phê duyệt đồ án Quy hoạch phân khu xây dựng tỷ lệ 1/2000, xác định các chức năng sử dụng đất và định hướng tổ chức không gian của dự án.
Khu vực quy hoạch hiện thuộc phường Thượng Cát, TP. Hà Nội, trước đây nằm trên địa bàn các phường Tây Tựu, Liên Mạc, Minh Khai, Thụy Phương và Cổ Nhuế 2, quận Bắc Từ Liêm. Dự án có phía Bắc giáp KCN Nam Thăng Long và các tuyến đường quy hoạch rộng 40m; phía Nam tiếp giáp Đại lộ Tây Thăng Long rộng 60,5 m.
Khác với các khu công nghiệp sản xuất thông thường, Khu công nghệ cao sinh học Hà Nội được định hướng kết hợp nghiên cứu, ứng dụng, sản xuất sản phẩm công nghệ cao, đào tạo và cung ứng dịch vụ. Sự khác biệt này thể hiện rõ trong cơ cấu phân bổ gần 200ha đất quy hoạch.
Theo báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) công khai tháng 7/2025, khu công nghệ cao sinh học Hà Nội có tổng diện tích quy hoạch 199,03ha. Trong đó, đất phục vụ hoạt động công nghệ cao chiếm tỷ trọng lớn nhất với 60,10ha, tương đương 30,20% diện tích toàn khu.
Bên cạnh đó, quy hoạch dành 30,90ha (15,53%) cho đất dịch vụ; 16,65ha (8,37%) cho khu lưu trú chuyên gia, người lao động; 9,39ha (4,72%) cho đào tạo, nghiên cứu và giáo dục; cùng 6,56ha (3,30%) cho công trình y tế. Các diện tích còn lại được bố trí cho cây xanh, mặt nước, giao thông và hạ tầng kỹ thuật.

Nguồn số liệu: Báo cáo ĐTM dự án, công khai tháng 7/2025.
Cơ cấu này cho thấy quy hoạch Khu công nghệ cao sinh học Hà Nội không chỉ tập trung vào hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và sản xuất công nghệ cao mà còn chú trọng phát triển các chức năng hỗ trợ. Việc bố trí không gian đào tạo, y tế, dịch vụ và lưu trú tạo cơ sở kết nối hoạt động nghiên cứu với doanh nghiệp, đồng thời đáp ứng nhu cầu làm việc, sinh hoạt của đội ngũ chuyên gia và người lao động.
Xem thêm: Hạ tầng số và nhân lực: Nền tảng đánh giá sự phát triển một khu công nghiệp công nghệ cao
Theo đồ án quy hoạch, các khu vực phục vụ hoạt động công nghệ cao được bố trí tập trung tại phía Bắc và Tây Bắc dự án. Đây là những khu vực trọng tâm, định hướng thu hút các hoạt động nghiên cứu, phát triển, ứng dụng và sản xuất sản phẩm công nghệ cao, ưu tiên lĩnh vực công nghệ sinh học.
Báo cáo ĐTM xác định quỹ đất công nghệ cao có diện tích 60,10ha, phân bổ tại 8 ô đất thuộc các khu quy hoạch A và B. Hai khu vực này có tổng diện tích lần lượt khoảng 47,07ha và 38,06ha, bao gồm cả các chức năng hỗ trợ bên cạnh đất công nghệ cao.

Nguồn số liệu: Báo cáo ĐTM công khai tháng 7/2025
Cách bố trí tập trung tạo cơ sở tổ chức các cơ sở nghiên cứu, ứng dụng và sản xuất trong cùng một khu vực, đồng thời kết nối với hệ thống giao thông, hạ tầng kỹ thuật và các công trình dịch vụ chung.
Đáng chú ý, đất hoạt động công nghệ cao không chỉ dành cho nhà máy sản xuất mà còn có thể phục vụ nghiên cứu, phát triển, ươm tạo và chuyển giao công nghệ. Do đó, việc bố trí công trình tại từng ô đất phải căn cứ vào chức năng quy hoạch, tiêu chí thu hút đầu tư và các yêu cầu kỹ thuật chuyên ngành.
Bên cạnh các khu vực nghiên cứu và sản xuất, Khu công nghệ cao sinh học Hà Nội dành 47,55ha cho đất dịch vụ và lưu trú, chiếm 23,89% tổng diện tích. Trong đó, đất dịch vụ đạt 30,90ha (15,53%), còn đất lưu trú chuyên gia, người lao động chiếm 16,65ha (8,37%).
Các công trình dịch vụ được bố trí tập trung chủ yếu ở phía Nam, tiếp giáp Đại lộ Tây Thăng Long, với các chức năng thương mại, văn phòng, khách sạn và dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp. Đây cũng là khu vực được định hướng hình thành điểm nhấn kiến trúc trên trục kết nối với công viên trung tâm.
Trong khi đó, quỹ đất lưu trú phục vụ nhu cầu sinh hoạt của chuyên gia và người lao động, góp phần bổ sung các tiện ích cần thiết cho hoạt động nghiên cứu, hợp tác và sản xuất công nghệ cao. Đáng lưu ý, chức năng lưu trú trong khu công nghệ cao cần được phân biệt với đất ở thương mại thông thường; quy mô và loại hình công trình cụ thể phải tuân thủ quy hoạch chi tiết và các quy định liên quan.

Phối cảnh dự án Khu công nghệ cao sinh học Hà Nội. Nguồn: CĐT
Ngoài 60,10ha đất công nghệ cao, đồ án bố trí 7,35ha đất đào tạo, nghiên cứu; 2,04ha đất giáo dục và 6,56ha đất y tế. Tổng diện tích ba nhóm chức năng đạt 15,95ha, tương đương khoảng 8,01% diện tích dự án.
Theo phương án tổ chức không gian, các công trình giáo dục, đào tạo và nghiên cứu được bố trí chủ yếu về phía Đông Nam. Trong khi đó, khu vực phía Đông dành cho các công trình y tế, trung tâm nghiên cứu và ứng dụng sản phẩm công nghệ cao.
Sự phân bố này cho thấy định hướng kết nối nhiều hoạt động trong cùng một không gian quy hoạch. Các cơ sở đào tạo có thể hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực, trong khi hoạt động nghiên cứu, ứng dụng công nghệ và y tế tạo điều kiện hình thành những hướng hợp tác chuyên môn phù hợp với lĩnh vực công nghệ sinh học.
Về dài hạn, khả năng hình thành chuỗi liên kết giữa nghiên cứu, đào tạo và sản xuất sẽ phụ thuộc vào các dự án được thu hút, năng lực chuyên môn của đơn vị tham gia và cơ chế hợp tác thực tế. Cơ cấu đất quy hoạch mới là điều kiện ban đầu để tổ chức những hoạt động này.
Theo cơ cấu sử dụng đất, Khu công nghệ cao sinh học Hà Nội dành 21,54ha đất cây xanh và 11,33ha mặt nước, với tổng diện tích 32,87ha, chiếm khoảng 16,52% diện tích toàn khu.
Trong đó, đất cây xanh gồm 21,09ha cây xanh sử dụng công cộng và 0,45ha cây xanh chuyên dụng. Diện tích mặt nước bao gồm 9,08ha hồ và 2,25ha mương nước.

Nguồn số liệu: Báo cáo ĐTM công khai tháng 7/2025
Đáng chú ý, quy hoạch xác định ô E có diện tích khoảng 24,63ha, giữ chức năng chính là khu vực công viên, cây xanh trung tâm; ô quy hoạch này gồm 14,44ha cây xanh sử dụng công cộng, 9,08ha mặt nước hồ và 1,11ha mặt nước mương.
Việc tập trung công viên và hồ nước tại khu vực trung tâm góp phần hình thành không gian mở, kết nối các phân khu công nghệ cao, nghiên cứu và dịch vụ xung quanh. Đồng thời, hệ thống cây xanh, mặt nước có vai trò tạo cảnh quan, hỗ trợ điều hòa vi khí hậu và tổ chức môi trường làm việc.
Tuy nhiên, diện tích cây xanh và mặt nước chưa phản ánh đầy đủ hiệu quả môi trường. Khả năng tiêu thoát nước, sự kết nối giữa các hồ, mương và phương án vận hành hạ tầng cần được xem xét cùng với quy hoạch san nền, thoát nước và hệ thống kỹ thuật của dự án.
Hệ thống giao thông và bãi đỗ xe chiếm tổng cộng 39,91 ha, tương đương khoảng 20,05% diện tích quy hoạch. Trong đó, đất giao thông đạt 36,06 ha; đất bãi đỗ xe là 3,35 ha và bãi đỗ xe cấp đô thị chiếm 0,50 ha.
Theo đồ án phân khu, trục giao thông chính được tổ chức theo hướng Bắc – Nam, kết nối khu vực hoạt động công nghệ cao với công viên trung tâm và không gian dịch vụ phía Nam. Đại lộ Tây Thăng Long giữ vai trò kết nối dự án với mạng lưới giao thông đô thị.
Báo cáo ĐTM đồng thời xác định dự án được chia thành 5 ô quy hoạch A, B, C, D và E với tổng diện tích 180,38 ha. Phần 18,65 ha nằm ngoài ranh giới các ô này được bố trí cho đường giao thông và mương nước.
Cách tổ chức trên cho phép phân chia các khu chức năng, đồng thời thiết lập hệ thống kết nối phục vụ hoạt động của từng khu vực. Đối với khu công nghệ cao, giao thông không chỉ phục vụ vận chuyển vật tư, thiết bị và sản phẩm mà còn đáp ứng nhu cầu đi lại giữa các cơ sở nghiên cứu, đào tạo, dịch vụ và nơi lưu trú.
Ngoài giao thông, dự án còn bố trí 2,65ha đất hạ tầng kỹ thuật khác, phục vụ các công trình đầu mối và hệ thống kỹ thuật liên quan. Việc triển khai các hạng mục này phải được tính toán theo nhu cầu sử dụng điện, nước, thoát nước và xử lý chất thải của các chức năng công nghệ cao.
Khu công nghệ cao sinh học Hà Nội được định hướng phát triển không chỉ là nơi nghiên cứu và sản xuất công nghệ cao mà còn là không gian kết nối đào tạo, ứng dụng công nghệ và các dịch vụ hỗ trợ. Cơ cấu quy hoạch này mở ra tiềm năng thu hút doanh nghiệp, viện nghiên cứu và đội ngũ chuyên gia, từng bước hình thành hệ sinh thái công nghệ sinh học, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế tri thức tại Thủ đô.
Xem thêm: Kế hoạch chuyển đổi khu công nghiệp sinh thái Hà Nội giai đoạn 2026 - 2045